kem chống nắng| sữa rửa mặt| Máy hút dịch thomas 1242 | Máy tạo oxy| tải mobi army| Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Tìm kiếm

Liên kết website

Đăng nhập

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

 

 

 

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Giàu lên nhờ nuôi nhím

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Trả hết số nợ “khổng lồ” sau đó tu sửa lại căn hộ cho khang trang và mua sắm thêm nhiều tiện nghi đắt tiền, cuộc sống của cả gia đình bác Dương Thế Bảo, tổ 8, phường Quan Triều đã thay đổi hẳn sau 2 năm đầu tư mô hình nuôi nhím.

Bước ngoặt trong phát triển kinh tế gia đình bác Bảo là thời điểm năm 2009, bác đã mạnh dạn vay ngân hàng 700 triệu đồng để đầu tư mô hình nuôi nhím. Khi đó, 700 triệu đồng đối với gia đình bác là cả một gia tài khổng lồ, bác kể lại: Trước đây, kinh tế gia đình tôi khó khăn lắm, năm 2004, sau khi về hưu, với đồng lương ít ỏi không đủ trang trải cuộc sống nên hằng ngày tôi phải ra sông Cầu làm cát kiếm thêm đồng ra đồng vào, thế rồi làm cát cũng không ăn thua tôi lại phải đi chạy xe công nông thuê. Với khát vọng làm giàu luôn cháy bỏng, vừa đi làm tôi vừa tranh thủ thời gian đi tham quan các mô hình chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao ở trong và ngoài tỉnh, sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng xem xét điều kiện và khả năng phát triển, năm 2009, tôi đã quyết định đầu tư mô hình chăn nuôi nhím, cuộc sống gia đình tôi thay đổi kể từ đó.

Từ 700 triệu đồng vay ngân hàng, bác Bảo đã mua 10 cặp nhím con về nuôi, sau khi tính toán thấy nuôi nhím con đến lúc sinh sản để cho thu nhập thì mất nhiều thời gian trong khi số vốn vay ngân hàng thì hằng ngày vẫn phải trả lãi, nên bác lại lên Điện Biên mua 14 cặp nhím đang sinh sản nữa. Sau hơn 1 tháng số nhím này đã sinh được 28 nhím con, bán với giá 17-18 triệu đồng/cặp, bác thu được trên 200 triệu đồng. Thành công bước đầu này chính là động lực để bác tiếp tục mở rộng quy mô chăn nuôi. Từ 24 cặp nhím bố mẹ, mỗi lứa nhím đẻ bác giữ lại vài cặp để nuôi, thế là mô hình nhím nhà bác cứ nở dần ra, lúc nhiều nhất lên tới 50 nhím mẹ, 25 nhím bố chưa kể nhím con. Đây cũng là thời điểm gia đình bác ăn nên làm ra nhất, cứ mỗi năm nhím đẻ 2 lứa, mỗi lứa được 100 con, doanh thu 1 năm lên đến trên 850 triệu đồng, chưa kể bán nhím thịt. Về kỹ thuật chăn nuôi nhím, bác chia sẻ: Nhím là loài động vật khá dễ nuôi, không đòi hỏi kỹ thuật cao, thức ăn của nhím cũng rất đa dạng và dễ kiếm, đó là các loại rau, củ, quả miễn là thức ăn cho nhím phải được rửa sạch sẽ bởi nhím là loài ăn sạch, tất cả các loại thức ăn thừa mà nó đã dẫm lên là nó không bao giờ ăn lại, chính vì vậy khi cho nhím ăn chỉ cho lượng vừa phải để nhím ăn hết, nếu còn thừa là phải đổ đi. Để giảm bớt chi phí thức ăn, tôi thường mua cả tấn bí đỏ về cho nhím ăn dần. Sau khi cho nhím ăn phần thịt bí, tôi tách hạt bí phơi khô, đến gần Tết Nguyên đán đem bán, số tiền bán hạt bí cũng bằng 2/3 số tiền mua bí, vì thế giảm được rất nhiều chi phí. Thêm vào đó, bí đỏ lại là thực phẩm giàu dinh dưỡng, rất tốt cho nhím và được loài nhím ưa thích.

Chỉ sau 2 năm chăn nuôi nhím, ngoài việc chi tiêu sinh hoạt, nuôi các con ăn học đến nơi đến chốn, bác Bảo đã trả hết toàn bộ số nợ vay ngân hàng và sửa sang nhà cửa khang trang hơn, mua sắm nhiều tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và đầu năm 2011, bác mới tậu được chiếc xe ô tô tải, tạo điều kiện cho con trai ông làm ăn. Vậy là cuộc sống gia đình bác đã bước sang trang mới, tất cả là nhờ chăn nuôi nhím. Tâm sự về những kế hoạch sắp tới, bác cho biết: Cho tới giờ nghĩ lại tôi vẫn thấy mình liều lĩnh nhưng đó là sự liều lĩnh đúng đắn, nhờ con nhím, gia đình tôi mới có cuộc sống như hôm nay, nên hiện nay mặc dù thị trường nhím đã chững lại, giá nhím con từ khoảng 18 triệu đồng/cặp rớt xuống còn khoảng 9 triệu đồng, nhưng tôi vẫn không từ bỏ mô hình này, tôi đã quen hằng ngày băm thức ăn cho nhím, nhìn ngắm mớ lông tua tủa như những chùm gai bồ kết khổng lồ và quen cả mùi hoi hoi nồng nồng của chúng. Hơn nữa, nhím là một món ăn đặc sản rất ngon và tốt cho sức khỏe, tôi tin rằng nghề nuôi nhím sẽ không lỗi thời nếu tôi tìm được đầu ra, hiện nay tôi đang tích cực liên hệ với các nhà hàng trên địa bàn tỉnh để bán nhím thịt và đi các tỉnh khác tìm thị trường tiêu thụ. Hiện nay, tôi đã thu nhỏ quy mô của mô hình xuống còn 30 nhím mẹ để giảm chi phí thức ăn, đợi khi tìm được thị trường tôi lại tiếp tục mở rộng.

Q.T (theo TN online)

Phú hộ chè Thái Nguyên

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Phú hộ chè Thái Nguyên

Có rất nhiều mô hình hộ gia đình nông dân Thái Nguyên đã làm giàu từ cây chè. Làm sao để duy trì và phát triển nhiều hơn nữa những nông hộ như vậy?

Một sào chè “đè” ba sào lúa

Tiến sỹ nông nghiệp Hoàng Văn Dũng (Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, người nông dân đã và sẽ làm giàu được từ cây chè nhưng không phải ai và ở bất kỳ nơi nào cũng làm được.

Những năm trước, cây chè được coi là cây mũi nhọn trong xoá đói giảm nghèo, giờ đây, nó được coi là cây trồng chủ lực để người nông dân Thái Nguyên vươn lên làm giàu. Năm 2005, năng suất chè của Thái Nguyên chỉ đạt 66,3 tạ/ha. Đến năm 2009, năng suất đã tăng lên 98,8 tạ/ha. Chính vì vậy, giá trị thu nhập bình quân của người làm chè tại Thái Nguyên đã tăng từ 36,5 triệu đồng/ha (năm 2005) lên 53 triệu đồng/ha (năm 2009). Trong khi đó, giá trị của chè Thái Nguyên trên thị trường ngày một nâng cao. Ở hầu hết các vùng chè nổi tiếng của tỉnh ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình giàu có, những triệu phú, tỷ phú nhờ làm chè.

Một điểm chung của những phú hộ chuyên chè là họ được sở hữu một diện tích đất chè khá lớn, có năng lực tổ chức sản xuất và tuân thủ quy trình sản xuất mang tính tất yếu khách quan (làm chè theo hướng an toàn). Với diện tích 3 mẫu chè, gia đình ông Nguyễn Văn Minh (xóm Phố Hích, xã Hoà Bình, huyện Đồng Hỷ) thu nhập trên dưới 300 triệu đồng mỗi năm. Ông Minh cho hay, để có được mức thu nhập như vậy, ông đã phải mạnh dạn chuyển toàn bộ vườn chè sang các loại chè cành, chè giống mới và áp dụng quy trình thực hành sản xuất tốt. Tương tự, gia đình ông Bàng Văn Thanh (xóm Vân Long, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ) cũng thu nhập gần 300 triệu đồng mỗi năm từ 1 ha chè giống mới. Ông Thanh khoe, nhà cao, cửa rộng, con cái phương trưởng thành đạt đều là từ chè mà ra cả. Xóm Vân Long (Hùng Sơn) là một trong hai vùng chè ngon nổi tiếng (cùng với La Bằng) của huyện Đại Từ. Hầu hết người dân trong xóm đều khẳng định, hiện tại chưa có cây trồng nào so được với chè. Chè chính là cây mang lại sự phồn thịnh cho xóm làng, “một sào chè đè 3 sào lúa”.

Tổng kết và phân tích thực tiễn, ông Nguyễn Thanh Phương (Trưởng phòng NN & PTNT huyện Đồng Hỷ) cho rằng, phần lớn những gia đình có thu nhập cao từ làm chè đã áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGap. Sản phẩm chè an toàn được bảo hộ về giá trị cũng như chất lượng đã thôi thúc người nông dân tự giác thực hiện phương thức sản xuất mới. Theo họ, sản xuất chè an toàn là cần thiết, là hợp với xu thế và trào lưu phát triển chung. Mạnh dạn thay đổi cách thức sản xuất sẽ mang lại sự tiến triển tích cực cho giá trị trên những nương chè.

Cần quy hoạch tổng thể

Một thực tế đối lập hiện nay là người làm chè Thái Nguyên vẫn chưa tận dụng hết những lợi thế của mình vì hiện tại một số địa phương còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Có các gia đình chỉ biết nhà nào nhà nấy làm, tự học, tự mày mò. Người có kinh nghiệm, bí quyết làm được chè ngon thì bán với giá cao, còn lại đều mang ra chợ bán chè mộc, chè nguyên liệu giá rẻ. Bởi vậy, việc tạo thành mối liên kết cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè của các làng nghề ở Thái Nguyên vẫn chưa thực hiện được tốt.

Ông Hoàng Văn Dũng (PGĐ Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) cho biết, với gần 18.000 ha và năng suất bình quân đạt 107 tạ/ha, Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích chè (sau Lâm Đồng) và đứng số 1 về năng suất. Tháng 6/2011 là thời điểm đã được tỉnh Thái Nguyên ấn định để hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn.

Rõ ràng, để người nông dân làm giàu từ cây chè mang tính phát triển bền vững thì giá trị thu nhập phải không ngừng nâng cao. Ông Đặng Viết Thuần (Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên) đặt vấn đề, những người đã giàu từ chè là so với những người đang nghèo hiện tại nhưng liệu lâu dài thì họ có duy trì và phát huy được cái gọi là giàu nữa hay không? Vậy thì, việc quan trọng là phải tạo được một quy hoạch đồng bộ mang tính hệ thống để định hướng chiến lược, liên tục thúc đẩy thật nhanh, thật mạnh giá trị thu nhập. Nếu chủ nghĩa nhiệm kỳ, tức là bằng lòng với thu nhập hiện tại thì nhanh chóng bị thụt lùi. Theo đó, việc quy hoạch sẽ hình thành những vùng sản xuất chè an toàn tập trung, góp phần hình thành thương hiệu sản phẩm. Những nông hộ có diện tích sản xuất chè hạn chế sẽ phải hợp tác, tích tụ để hình thành vùng sản xuất tập trung.

Các chủ doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè trên địa bàn Thái Nguyên cho rằng, chè Thái Nguyên đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà Nước bảo hộ. Tuy nhiên, thương hiệu đó chỉ “thống soái” đối với thị trường nội tiêu, còn việc tạo cho nó chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế là vấn đề không nhỏ đặt ra đối với ngành sản xuất, chế biến chè của tỉnh. Bà Nguyễn Thị Nguyệt (GĐ doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt) phân tích, trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu chè Thái Nguyên hầu hết là xuất khẩu thô, giá trị kinh tế thấp, thậm chí giá trị của chè xuất khẩu còn thấp hơn cả giá trị chè nội tiêu. Doanh nghiệp trà Hạnh Nguyệt với sản phẩm “siêu” chè (trà hoa nghệ thuật) đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu nâng tầm giá trị chè Thái Nguyên lên trên dưới 10 triệu đồng/kg. Các nông hộ cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp đương nhiên sẽ được hưởng lợi cao hơn. Vì vậy, việc quy hoạch chè phải đảm bảo được sự đồng bộ giữa 4 nhà, tạo ra tính tương hỗ để kích ứng phát triển.

Q.T (theo NNVN online)

 

 

Phú hộ chè Thái Nguyên

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Phú hộ chè Thái Nguyên

Có rất nhiều mô hình hộ gia đình nông dân Thái Nguyên đã làm giàu từ cây chè. Làm sao để duy trì và phát triển nhiều hơn nữa những nông hộ như vậy?

Một sào chè “đè” ba sào lúa

Tiến sỹ nông nghiệp Hoàng Văn Dũng (Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, người nông dân đã và sẽ làm giàu được từ cây chè nhưng không phải ai và ở bất kỳ nơi nào cũng làm được.

Những năm trước, cây chè được coi là cây mũi nhọn trong xoá đói giảm nghèo, giờ đây, nó được coi là cây trồng chủ lực để người nông dân Thái Nguyên vươn lên làm giàu. Năm 2005, năng suất chè của Thái Nguyên chỉ đạt 66,3 tạ/ha. Đến năm 2009, năng suất đã tăng lên 98,8 tạ/ha. Chính vì vậy, giá trị thu nhập bình quân của người làm chè tại Thái Nguyên đã tăng từ 36,5 triệu đồng/ha (năm 2005) lên 53 triệu đồng/ha (năm 2009). Trong khi đó, giá trị của chè Thái Nguyên trên thị trường ngày một nâng cao. Ở hầu hết các vùng chè nổi tiếng của tỉnh ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình giàu có, những triệu phú, tỷ phú nhờ làm chè.

Một điểm chung của những phú hộ chuyên chè là họ được sở hữu một diện tích đất chè khá lớn, có năng lực tổ chức sản xuất và tuân thủ quy trình sản xuất mang tính tất yếu khách quan (làm chè theo hướng an toàn). Với diện tích 3 mẫu chè, gia đình ông Nguyễn Văn Minh (xóm Phố Hích, xã Hoà Bình, huyện Đồng Hỷ) thu nhập trên dưới 300 triệu đồng mỗi năm. Ông Minh cho hay, để có được mức thu nhập như vậy, ông đã phải mạnh dạn chuyển toàn bộ vườn chè sang các loại chè cành, chè giống mới và áp dụng quy trình thực hành sản xuất tốt. Tương tự, gia đình ông Bàng Văn Thanh (xóm Vân Long, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ) cũng thu nhập gần 300 triệu đồng mỗi năm từ 1 ha chè giống mới. Ông Thanh khoe, nhà cao, cửa rộng, con cái phương trưởng thành đạt đều là từ chè mà ra cả. Xóm Vân Long (Hùng Sơn) là một trong hai vùng chè ngon nổi tiếng (cùng với La Bằng) của huyện Đại Từ. Hầu hết người dân trong xóm đều khẳng định, hiện tại chưa có cây trồng nào so được với chè. Chè chính là cây mang lại sự phồn thịnh cho xóm làng, “một sào chè đè 3 sào lúa”.

Tổng kết và phân tích thực tiễn, ông Nguyễn Thanh Phương (Trưởng phòng NN & PTNT huyện Đồng Hỷ) cho rằng, phần lớn những gia đình có thu nhập cao từ làm chè đã áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGap. Sản phẩm chè an toàn được bảo hộ về giá trị cũng như chất lượng đã thôi thúc người nông dân tự giác thực hiện phương thức sản xuất mới. Theo họ, sản xuất chè an toàn là cần thiết, là hợp với xu thế và trào lưu phát triển chung. Mạnh dạn thay đổi cách thức sản xuất sẽ mang lại sự tiến triển tích cực cho giá trị trên những nương chè.

Cần quy hoạch tổng thể

Một thực tế đối lập hiện nay là người làm chè Thái Nguyên vẫn chưa tận dụng hết những lợi thế của mình vì hiện tại một số địa phương còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Có các gia đình chỉ biết nhà nào nhà nấy làm, tự học, tự mày mò. Người có kinh nghiệm, bí quyết làm được chè ngon thì bán với giá cao, còn lại đều mang ra chợ bán chè mộc, chè nguyên liệu giá rẻ. Bởi vậy, việc tạo thành mối liên kết cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè của các làng nghề ở Thái Nguyên vẫn chưa thực hiện được tốt.

Ông Hoàng Văn Dũng (PGĐ Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) cho biết, với gần 18.000 ha và năng suất bình quân đạt 107 tạ/ha, Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích chè (sau Lâm Đồng) và đứng số 1 về năng suất. Tháng 6/2011 là thời điểm đã được tỉnh Thái Nguyên ấn định để hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn.

Rõ ràng, để người nông dân làm giàu từ cây chè mang tính phát triển bền vững thì giá trị thu nhập phải không ngừng nâng cao. Ông Đặng Viết Thuần (Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên) đặt vấn đề, những người đã giàu từ chè là so với những người đang nghèo hiện tại nhưng liệu lâu dài thì họ có duy trì và phát huy được cái gọi là giàu nữa hay không? Vậy thì, việc quan trọng là phải tạo được một quy hoạch đồng bộ mang tính hệ thống để định hướng chiến lược, liên tục thúc đẩy thật nhanh, thật mạnh giá trị thu nhập. Nếu chủ nghĩa nhiệm kỳ, tức là bằng lòng với thu nhập hiện tại thì nhanh chóng bị thụt lùi. Theo đó, việc quy hoạch sẽ hình thành những vùng sản xuất chè an toàn tập trung, góp phần hình thành thương hiệu sản phẩm. Những nông hộ có diện tích sản xuất chè hạn chế sẽ phải hợp tác, tích tụ để hình thành vùng sản xuất tập trung.

Các chủ doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè trên địa bàn Thái Nguyên cho rằng, chè Thái Nguyên đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà Nước bảo hộ. Tuy nhiên, thương hiệu đó chỉ “thống soái” đối với thị trường nội tiêu, còn việc tạo cho nó chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế là vấn đề không nhỏ đặt ra đối với ngành sản xuất, chế biến chè của tỉnh. Bà Nguyễn Thị Nguyệt (GĐ doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt) phân tích, trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu chè Thái Nguyên hầu hết là xuất khẩu thô, giá trị kinh tế thấp, thậm chí giá trị của chè xuất khẩu còn thấp hơn cả giá trị chè nội tiêu. Doanh nghiệp trà Hạnh Nguyệt với sản phẩm “siêu” chè (trà hoa nghệ thuật) đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu nâng tầm giá trị chè Thái Nguyên lên trên dưới 10 triệu đồng/kg. Các nông hộ cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp đương nhiên sẽ được hưởng lợi cao hơn. Vì vậy, việc quy hoạch chè phải đảm bảo được sự đồng bộ giữa 4 nhà, tạo ra tính tương hỗ để kích ứng phát triển.

Q.T (theo NNVN online)

 

   

Thoát nghèo từ làm bún

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

Thoát nghèo từ làm bún:

Ông Ma Văn Vấn, hội viên Chi hội Nông dân xóm Hợp Thành, thị trấn Chợ Chu (Định Hóa- Thái Nguyên) là hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi vừa được nhận Giấy khen của Hội Nông dân tỉnh. Mô hình sản xuất của gia đình ông là làm bún và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Trước đây, nguồn thu của cả gia đình ông chỉ trông vào 7 sào ruộng, lại phải lo tiền nuôi hai con ăn học nên đời sống rất chật vật. Khi vợ ở nhà làm ruộng, ông Vấn đã đi làm phụ hồ, nhưng nghề này vốn vất vả lại cho nguồn thu không ổn định vì xây dựng thường theo mùa vụ. Năm 2004, ông đến nhà người thân cùng thị trấn và biết được họ có thu nhập cao từ nghề làm bún. Sau khi bàn bạc với vợ, hai vợ chồng ông đã học nghề làm bún để kiếm thêm thu nhập. Vợ chồng ông đã đầu tư mua máy xay bột, đánh bột về làm. Ban đầu chưa quen việc, quen khách nên bún bán hay bị “ế”, cả nhà phải ăn bún thay cơm. Một thời gian sau, khi đã nắm chắc kỹ thuật để làm được bún ngon, lại quen khách nên bún của vợ chồng ông làm ra ngày càng được nhiều người đặt mua.

Ông chia sẻ, để làm bún ngon, đầu tiên người làm phải kỹ càng từ khâu chọn gạo, ngon nhất là gạo Bao thai Định Hóa. Nếu chọn được gạo ngon, trắng thì bún sẽ dẻo, thơm. Ngoài ra, bí quyết của gia đình ông để làm bún ngon, trắng thì lúc ngâm bột phải đảm bảo đủ ngày, chú ý nhiệt độ, thời tiết. Thường thì nếu mùa đông, cần ngâm 10 ngày đêm, nhưng nếu thời tiết nóng như mùa hè thì chỉ phải ngâm 7 ngày đêm. Mỗi ngày ngâm bột cần thay nước một lần. Khi ngâm phải để kín, lấy đá nén, tránh nước bột bị chua ảnh hưởng đến chất lượng. Sau khi ngâm đủ ngày, bột sẽ được chuyển để luộc, rồi đánh tơi cho thật nhuyễn. Hơn nữa, bún ngon, thơm, trắng, có độ dẻo phải đảm bảo an toàn vệ sinh. Được biết, tháng 4 vừa qua, Ban Chỉ đạo Vệ sinh An toàn thực phẩm huyện Định Hóa đã đi kiểm tra tại gia đình ông và công nhận cơ sở làm bún của gia đình ông đảm bảo chất lượng, an toàn, sạch sẽ.

Hiện, mỗi ngày, gia đình ông bán ra từ 70-100 kg bún, thu lãi từ 200-300 nghìn đồng. Những dịp lễ, tết thì vợ chồng ông làm không hết việc, một ngày có thể bán từ 5-7 tạ bún, thu lãi hàng triệu đồng. Một năm, trừ chi phí, ông thu lãi trên 100 triệu đồng từ nghề làm bún. Với thu nhập này, vợ chồng ông có điều kiện hơn tập trung nuôi hai con gái đang học Đại học Nông lâm và Khoa Công nghệ thông tin (Đại học Thái Nguyên). Đồng thời gia đình ông mua sắm được nhiều vật dụng tiện nghi trong gia đình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài làm bún, vợ chồng ông còn tận dụng nguyên liệu thừa để chăn nuôi gia súc, gia cầm, cho nguồn thu nhập ổn định 20-30 triệu đồng/năm.

Với người nông dân, để tăng thu nhập không phải quá khó, điều quan trọng là biết tìm hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của gia đình chăm chỉ với công việc, đó là bí quyết mà ông Vấn chia sẻ.

Q.T (Theo: Báo Thái Nguyên)

 

Chuyện về người triệu phú táo xuân 21

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

Chuyện về triệu phú táo xuân 21

Trước mắt chúng tôi là ngôi nhà hai tầng khang trang giữa vườn cây trái xanh tươi của ông Vũ Ngọc Nhân, xóm Đá Gân, xã Đồng Liên (Phú Bình - Thái Nguyên), trước cửa đề một tấm biển to: “Nhà vườn Vũ Nhân, chuyên cung cấp các loại cây giống”…

Sinh năm 1941 trong một gia đình nông dân nên từ nhỏ ông Nhân đã học được đức tính cần cù, chịu khó của cha mẹ. Năm 1971, ông Nhân xây dựng gia đình với người thiếu nữ cùng làng Ngô Thị Liên. Hai vợ chồng ra ở riêng được bố mẹ cho hơn 1 mẫu đất. Với diện tích đó, hai vợ chồng ông cấy lúa nhưng thu nhập thấp vì một nửa là đất trũng chỉ có thể tận dụng những chỗ trên cao để tra lúa cạn vụ chiêm. Cuộc sống vất vả, cực nhọc khiến trong đầu ông luôn nung nấu ý định tìm hướng phát triển kinh tế gia đình. “Trong cái khó, ló cái khôn”, cuối năm 1993, Hội làm vườn của huyện được thành lập, ông là một trong những người đầu tiên hăng hái đăng ký tham gia. Ông cùng các hội viên đã được đi tham quan mô hình trồng cây ăn quả ở Bắc Giang, Hưng Yên.

Trở về, với số vốn ít ỏi ban đầu là 2 triệu đồng, ông vay mượn bạn bè, người thân thêm 5 triệu đồng để san đất, cải tạo vườn trồng cây ăn quả. Và rồi nối tiếp những ngày tháng hai vợ chồng ông cùng các con gánh đất ở bãi bồi ven sông đổ lên vườn trũng. Có những hôm vợ chồng ông miệt mài làm đến tận 9, 10 giờ đêm. Công việc nặng nhọc này kéo dài khoảng 5 - 6 tháng. San đất xong, ông trồng 100 cây vải, nhãn, táo, ổi trên diện tích gần 3 nghìn m2 đất vườn vừa cải tạo. Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, ông trồng xen canh các loại cây như chuối, đu đủ, bí xanh vào dưới gốc vải, nhãn. Lúc đó chưa có điện lưới nên hàng ngày, vợ chồng ông lại cặm cụi tay gồng, tay gánh múc nước từ sông lên tưới cây. Ông còn dành thời gian chiết, ghép cành các loại cây ăn quả để bán tạo thêm nguồn thu cho gia đình. Mỗi năm, ông bán được từ 2,5 - 3 nghìn cây giống như ổi, táo, vải, nhãn, hồng… với giá từ 4 - 6 nghìn đồng/cành.

Chiết ghép cây giống thì ai cũng có thể làm được nhưng để cây giống chiết đúng thời gian, đảm bảo chất lượng thì không phải điều đơn giản. Nhận thức được điều đó nên ông đã tìm đến Trường Đại học Nông lâm (Đại học Thái Nguyên) học kỹ thuật chiết ghép của các kỹ sư nông nghiệp, đồng thời nhờ họ tìm đầu mối tiêu thụ các sản phẩm cây giống của gia đình mình. Khi ấy, cầu Ba Đa chưa xây dựng, việc vận chuyển hàng hóa của gia đình ông gặp nhiều khó khăn. Mỗi vụ trồng cây, ông lại chở 700 cây giống trên chiếc xe máy cà tàng từ con đường lầy lội bùn đất qua chiếc cầu tre lên thành phố. Nhưng “trời không phụ công người”, những vất vả, nỗ lực của gia đình ông đã được đền đáp xứng đáng. Những cây của ông chất lượng đảm bảo, giá bán lại rẻ hơn so với các nơi khác từ 10 - 15% nên càng ngày càng có nhiều người đến đặt mua hàng với số lượng lớn. Hàng năm, nguồn thu từ mặt hàng này đã đem lại cho gia đình ông từ 70 - 80 triệu đồng.

Vừa dẫn chúng tôi tham quan khu vườn được quy hoạch từng loại cây trồng như táo, nhãn và khu nhân giống riêng, ông Nhân vừa kể: “Cuộc sống của gia đình tôi thực sự được “đổi đời” là nhờ cây táo xuân 21. Năm 2001, đọc được thông tin trên Bản tin của Trung ương Hội Nông dân và Báo Nông thôn ngày nay có giới thiệu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây táo xuân 21 chất lượng, cho hiệu quả kinh tế cao. Tôi vô cùng thích thú và đã xuống tận Trường Đại học Nông nghiệp I mua 5 cây táo về trồng thử tại vườn. Sau một năm, cây táo sinh trưởng và phát triển tốt, cho thu 1 tạ, quả ăn ngọt và giòn, bán ra thị trường với giá cao 14 nghìn đồng/kg. Thấy cây táo phù hợp với thổ nhưỡng vùng đất này, chăm sóc đơn giản lại cho nguồn thu cao nên tôi quyết định mua thêm 50 cây táo về trồng, đến nay trong vườn nhà tôi đã có gần 1 nghìn cây”. Nhận thấy phát triển loại táo này cho thu nhập cao, ông đã mày mò tìm cách chiết cành táo giống để bán cho các hộ trong khu vực và nhiệt tình hướng dẫn họ cách chăm sóc táo đem lại nguồn thu hiệu quả (hiện ở xã có trên 25 hộ nhờ sự giúp đỡ của ông đã phát triển cây táo xuân 21 cho thu nhập khá). Đi trong vườn táo rộng mênh mông, ngắm những gốc táo được chăm sóc kỹ càng đang căng tràn sức sống tôi thật vui khi biết năm 2007, riêng nguồn thu từ vườn táo mang lại cho gia đình ông trên 100 triệu đồng, năm 2008 thu lãi trên 280 triệu đồng, năm 2009 là 380 triệu đồng. Đó là chưa kể các khoản thu từ cây giống và cây ăn quả ổn định cho gia đình ông trên dưới 100 triệu đồng/năm. Hàng năm, gia đình ông đều mua đất mở rộng diện tích vườn, từ gần 3 nghìn m2 đất lúc đầu hiện gia đình ông đã mua thêm đất mở rộng khu vườn ra 20 nghìn m2 trồng các loại cây ăn quả và nhân giống các loại táo, ổi, nhãn, vải, cây cảnh như đào bích, đào phai… Trong khu vườn còn có một hệ thống mương máng được xây dựng bao quanh để cung cấp nước tưới cho các loại cây cùng nhiều máy móc thiết bị và nguồn cây giống trị giá đầu tư hàng tỷ đồng…

Là một hội viên nông dân linh hoạt, sáng tạo làm kinh tế giỏi, ông Nhân đã được nhận Kỷ niệm chương vì Giai cấp nông dân Việt Nam, được UBND tỉnh tặng nhiều bằng khen, Giấy khen là hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, gia đình ông được nhận Giấy khen của UBND huyện là gia đình văn hóa tiêu biểu giai đoạn 2007 - 2009. Nhận xét về ông Vũ Ngọc Nhân, ông Nguyễn Văn Hữu, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Liên nói: “Ông Nhân là Tổ trưởng tổ làm vườn của xã, một hội viên nông dân tiêu biểu có ý chí, nghị lực, say mê tìm cách vươn lên làm giàu. Không những vậy, ông Nhân còn tích cực giúp đỡ cho các hộ nghèo bằng cách cung cấp cây con giống, đến khi họ thu hoạch mới phải trả tiền, tích cực hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc các loại cây cho người dân có nhu cầu”…

Q.T (theo: Báo Thái Nguyên)

 

   

Trang 2 trong tổng số 5