kem chống nắng| sữa rửa mặt|lắp mạng viettel

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Tìm kiếm

Liên kết website

Đăng nhập

Số lượt truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

 

 

 

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Phú hộ chè Thái Nguyên

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

Phú hộ chè Thái Nguyên

Có rất nhiều mô hình hộ gia đình nông dân Thái Nguyên đã làm giàu từ cây chè. Làm sao để duy trì và phát triển nhiều hơn nữa những nông hộ như vậy?

Một sào chè “đè” ba sào lúa

Tiến sỹ nông nghiệp Hoàng Văn Dũng (Phó Giám đốc Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) khẳng định, người nông dân đã và sẽ làm giàu được từ cây chè nhưng không phải ai và ở bất kỳ nơi nào cũng làm được.

Những năm trước, cây chè được coi là cây mũi nhọn trong xoá đói giảm nghèo, giờ đây, nó được coi là cây trồng chủ lực để người nông dân Thái Nguyên vươn lên làm giàu. Năm 2005, năng suất chè của Thái Nguyên chỉ đạt 66,3 tạ/ha. Đến năm 2009, năng suất đã tăng lên 98,8 tạ/ha. Chính vì vậy, giá trị thu nhập bình quân của người làm chè tại Thái Nguyên đã tăng từ 36,5 triệu đồng/ha (năm 2005) lên 53 triệu đồng/ha (năm 2009). Trong khi đó, giá trị của chè Thái Nguyên trên thị trường ngày một nâng cao. Ở hầu hết các vùng chè nổi tiếng của tỉnh ngày càng xuất hiện nhiều hộ gia đình giàu có, những triệu phú, tỷ phú nhờ làm chè.

Một điểm chung của những phú hộ chuyên chè là họ được sở hữu một diện tích đất chè khá lớn, có năng lực tổ chức sản xuất và tuân thủ quy trình sản xuất mang tính tất yếu khách quan (làm chè theo hướng an toàn). Với diện tích 3 mẫu chè, gia đình ông Nguyễn Văn Minh (xóm Phố Hích, xã Hoà Bình, huyện Đồng Hỷ) thu nhập trên dưới 300 triệu đồng mỗi năm. Ông Minh cho hay, để có được mức thu nhập như vậy, ông đã phải mạnh dạn chuyển toàn bộ vườn chè sang các loại chè cành, chè giống mới và áp dụng quy trình thực hành sản xuất tốt. Tương tự, gia đình ông Bàng Văn Thanh (xóm Vân Long, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ) cũng thu nhập gần 300 triệu đồng mỗi năm từ 1 ha chè giống mới. Ông Thanh khoe, nhà cao, cửa rộng, con cái phương trưởng thành đạt đều là từ chè mà ra cả. Xóm Vân Long (Hùng Sơn) là một trong hai vùng chè ngon nổi tiếng (cùng với La Bằng) của huyện Đại Từ. Hầu hết người dân trong xóm đều khẳng định, hiện tại chưa có cây trồng nào so được với chè. Chè chính là cây mang lại sự phồn thịnh cho xóm làng, “một sào chè đè 3 sào lúa”.

Tổng kết và phân tích thực tiễn, ông Nguyễn Thanh Phương (Trưởng phòng NN & PTNT huyện Đồng Hỷ) cho rằng, phần lớn những gia đình có thu nhập cao từ làm chè đã áp dụng quy trình sản xuất theo hướng VietGap. Sản phẩm chè an toàn được bảo hộ về giá trị cũng như chất lượng đã thôi thúc người nông dân tự giác thực hiện phương thức sản xuất mới. Theo họ, sản xuất chè an toàn là cần thiết, là hợp với xu thế và trào lưu phát triển chung. Mạnh dạn thay đổi cách thức sản xuất sẽ mang lại sự tiến triển tích cực cho giá trị trên những nương chè.

Cần quy hoạch tổng thể

Một thực tế đối lập hiện nay là người làm chè Thái Nguyên vẫn chưa tận dụng hết những lợi thế của mình vì hiện tại một số địa phương còn hoạt động nhỏ lẻ, manh mún và tự phát. Có các gia đình chỉ biết nhà nào nhà nấy làm, tự học, tự mày mò. Người có kinh nghiệm, bí quyết làm được chè ngon thì bán với giá cao, còn lại đều mang ra chợ bán chè mộc, chè nguyên liệu giá rẻ. Bởi vậy, việc tạo thành mối liên kết cùng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chè của các làng nghề ở Thái Nguyên vẫn chưa thực hiện được tốt.

Ông Hoàng Văn Dũng (PGĐ Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên) cho biết, với gần 18.000 ha và năng suất bình quân đạt 107 tạ/ha, Thái Nguyên là tỉnh đứng thứ 2 cả nước về diện tích chè (sau Lâm Đồng) và đứng số 1 về năng suất. Tháng 6/2011 là thời điểm đã được tỉnh Thái Nguyên ấn định để hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn.

Rõ ràng, để người nông dân làm giàu từ cây chè mang tính phát triển bền vững thì giá trị thu nhập phải không ngừng nâng cao. Ông Đặng Viết Thuần (Phó chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên) đặt vấn đề, những người đã giàu từ chè là so với những người đang nghèo hiện tại nhưng liệu lâu dài thì họ có duy trì và phát huy được cái gọi là giàu nữa hay không? Vậy thì, việc quan trọng là phải tạo được một quy hoạch đồng bộ mang tính hệ thống để định hướng chiến lược, liên tục thúc đẩy thật nhanh, thật mạnh giá trị thu nhập. Nếu chủ nghĩa nhiệm kỳ, tức là bằng lòng với thu nhập hiện tại thì nhanh chóng bị thụt lùi. Theo đó, việc quy hoạch sẽ hình thành những vùng sản xuất chè an toàn tập trung, góp phần hình thành thương hiệu sản phẩm. Những nông hộ có diện tích sản xuất chè hạn chế sẽ phải hợp tác, tích tụ để hình thành vùng sản xuất tập trung.

Các chủ doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè trên địa bàn Thái Nguyên cho rằng, chè Thái Nguyên đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà Nước bảo hộ. Tuy nhiên, thương hiệu đó chỉ “thống soái” đối với thị trường nội tiêu, còn việc tạo cho nó chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc tế là vấn đề không nhỏ đặt ra đối với ngành sản xuất, chế biến chè của tỉnh. Bà Nguyễn Thị Nguyệt (GĐ doanh nghiệp tư nhân trà Hạnh Nguyệt) phân tích, trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp xuất khẩu chè Thái Nguyên hầu hết là xuất khẩu thô, giá trị kinh tế thấp, thậm chí giá trị của chè xuất khẩu còn thấp hơn cả giá trị chè nội tiêu. Doanh nghiệp trà Hạnh Nguyệt với sản phẩm “siêu” chè (trà hoa nghệ thuật) đã có nhiều hợp đồng xuất khẩu nâng tầm giá trị chè Thái Nguyên lên trên dưới 10 triệu đồng/kg. Các nông hộ cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp đương nhiên sẽ được hưởng lợi cao hơn. Vì vậy, việc quy hoạch chè phải đảm bảo được sự đồng bộ giữa 4 nhà, tạo ra tính tương hỗ để kích ứng phát triển.

Q.T (theo NNVN online)

 

Thoát nghèo từ làm bún

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

Thoát nghèo từ làm bún:

Ông Ma Văn Vấn, hội viên Chi hội Nông dân xóm Hợp Thành, thị trấn Chợ Chu (Định Hóa- Thái Nguyên) là hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi vừa được nhận Giấy khen của Hội Nông dân tỉnh. Mô hình sản xuất của gia đình ông là làm bún và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

Trước đây, nguồn thu của cả gia đình ông chỉ trông vào 7 sào ruộng, lại phải lo tiền nuôi hai con ăn học nên đời sống rất chật vật. Khi vợ ở nhà làm ruộng, ông Vấn đã đi làm phụ hồ, nhưng nghề này vốn vất vả lại cho nguồn thu không ổn định vì xây dựng thường theo mùa vụ. Năm 2004, ông đến nhà người thân cùng thị trấn và biết được họ có thu nhập cao từ nghề làm bún. Sau khi bàn bạc với vợ, hai vợ chồng ông đã học nghề làm bún để kiếm thêm thu nhập. Vợ chồng ông đã đầu tư mua máy xay bột, đánh bột về làm. Ban đầu chưa quen việc, quen khách nên bún bán hay bị “ế”, cả nhà phải ăn bún thay cơm. Một thời gian sau, khi đã nắm chắc kỹ thuật để làm được bún ngon, lại quen khách nên bún của vợ chồng ông làm ra ngày càng được nhiều người đặt mua.

Ông chia sẻ, để làm bún ngon, đầu tiên người làm phải kỹ càng từ khâu chọn gạo, ngon nhất là gạo Bao thai Định Hóa. Nếu chọn được gạo ngon, trắng thì bún sẽ dẻo, thơm. Ngoài ra, bí quyết của gia đình ông để làm bún ngon, trắng thì lúc ngâm bột phải đảm bảo đủ ngày, chú ý nhiệt độ, thời tiết. Thường thì nếu mùa đông, cần ngâm 10 ngày đêm, nhưng nếu thời tiết nóng như mùa hè thì chỉ phải ngâm 7 ngày đêm. Mỗi ngày ngâm bột cần thay nước một lần. Khi ngâm phải để kín, lấy đá nén, tránh nước bột bị chua ảnh hưởng đến chất lượng. Sau khi ngâm đủ ngày, bột sẽ được chuyển để luộc, rồi đánh tơi cho thật nhuyễn. Hơn nữa, bún ngon, thơm, trắng, có độ dẻo phải đảm bảo an toàn vệ sinh. Được biết, tháng 4 vừa qua, Ban Chỉ đạo Vệ sinh An toàn thực phẩm huyện Định Hóa đã đi kiểm tra tại gia đình ông và công nhận cơ sở làm bún của gia đình ông đảm bảo chất lượng, an toàn, sạch sẽ.

Hiện, mỗi ngày, gia đình ông bán ra từ 70-100 kg bún, thu lãi từ 200-300 nghìn đồng. Những dịp lễ, tết thì vợ chồng ông làm không hết việc, một ngày có thể bán từ 5-7 tạ bún, thu lãi hàng triệu đồng. Một năm, trừ chi phí, ông thu lãi trên 100 triệu đồng từ nghề làm bún. Với thu nhập này, vợ chồng ông có điều kiện hơn tập trung nuôi hai con gái đang học Đại học Nông lâm và Khoa Công nghệ thông tin (Đại học Thái Nguyên). Đồng thời gia đình ông mua sắm được nhiều vật dụng tiện nghi trong gia đình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài làm bún, vợ chồng ông còn tận dụng nguyên liệu thừa để chăn nuôi gia súc, gia cầm, cho nguồn thu nhập ổn định 20-30 triệu đồng/năm.

Với người nông dân, để tăng thu nhập không phải quá khó, điều quan trọng là biết tìm hướng phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế của gia đình chăm chỉ với công việc, đó là bí quyết mà ông Vấn chia sẻ.

Q.T (Theo: Báo Thái Nguyên)

 

Chuyện về người triệu phú táo xuân 21

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

Chuyện về triệu phú táo xuân 21

Trước mắt chúng tôi là ngôi nhà hai tầng khang trang giữa vườn cây trái xanh tươi của ông Vũ Ngọc Nhân, xóm Đá Gân, xã Đồng Liên (Phú Bình - Thái Nguyên), trước cửa đề một tấm biển to: “Nhà vườn Vũ Nhân, chuyên cung cấp các loại cây giống”…

Sinh năm 1941 trong một gia đình nông dân nên từ nhỏ ông Nhân đã học được đức tính cần cù, chịu khó của cha mẹ. Năm 1971, ông Nhân xây dựng gia đình với người thiếu nữ cùng làng Ngô Thị Liên. Hai vợ chồng ra ở riêng được bố mẹ cho hơn 1 mẫu đất. Với diện tích đó, hai vợ chồng ông cấy lúa nhưng thu nhập thấp vì một nửa là đất trũng chỉ có thể tận dụng những chỗ trên cao để tra lúa cạn vụ chiêm. Cuộc sống vất vả, cực nhọc khiến trong đầu ông luôn nung nấu ý định tìm hướng phát triển kinh tế gia đình. “Trong cái khó, ló cái khôn”, cuối năm 1993, Hội làm vườn của huyện được thành lập, ông là một trong những người đầu tiên hăng hái đăng ký tham gia. Ông cùng các hội viên đã được đi tham quan mô hình trồng cây ăn quả ở Bắc Giang, Hưng Yên.

Trở về, với số vốn ít ỏi ban đầu là 2 triệu đồng, ông vay mượn bạn bè, người thân thêm 5 triệu đồng để san đất, cải tạo vườn trồng cây ăn quả. Và rồi nối tiếp những ngày tháng hai vợ chồng ông cùng các con gánh đất ở bãi bồi ven sông đổ lên vườn trũng. Có những hôm vợ chồng ông miệt mài làm đến tận 9, 10 giờ đêm. Công việc nặng nhọc này kéo dài khoảng 5 - 6 tháng. San đất xong, ông trồng 100 cây vải, nhãn, táo, ổi trên diện tích gần 3 nghìn m2 đất vườn vừa cải tạo. Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài”, ông trồng xen canh các loại cây như chuối, đu đủ, bí xanh vào dưới gốc vải, nhãn. Lúc đó chưa có điện lưới nên hàng ngày, vợ chồng ông lại cặm cụi tay gồng, tay gánh múc nước từ sông lên tưới cây. Ông còn dành thời gian chiết, ghép cành các loại cây ăn quả để bán tạo thêm nguồn thu cho gia đình. Mỗi năm, ông bán được từ 2,5 - 3 nghìn cây giống như ổi, táo, vải, nhãn, hồng… với giá từ 4 - 6 nghìn đồng/cành.

Chiết ghép cây giống thì ai cũng có thể làm được nhưng để cây giống chiết đúng thời gian, đảm bảo chất lượng thì không phải điều đơn giản. Nhận thức được điều đó nên ông đã tìm đến Trường Đại học Nông lâm (Đại học Thái Nguyên) học kỹ thuật chiết ghép của các kỹ sư nông nghiệp, đồng thời nhờ họ tìm đầu mối tiêu thụ các sản phẩm cây giống của gia đình mình. Khi ấy, cầu Ba Đa chưa xây dựng, việc vận chuyển hàng hóa của gia đình ông gặp nhiều khó khăn. Mỗi vụ trồng cây, ông lại chở 700 cây giống trên chiếc xe máy cà tàng từ con đường lầy lội bùn đất qua chiếc cầu tre lên thành phố. Nhưng “trời không phụ công người”, những vất vả, nỗ lực của gia đình ông đã được đền đáp xứng đáng. Những cây của ông chất lượng đảm bảo, giá bán lại rẻ hơn so với các nơi khác từ 10 - 15% nên càng ngày càng có nhiều người đến đặt mua hàng với số lượng lớn. Hàng năm, nguồn thu từ mặt hàng này đã đem lại cho gia đình ông từ 70 - 80 triệu đồng.

Vừa dẫn chúng tôi tham quan khu vườn được quy hoạch từng loại cây trồng như táo, nhãn và khu nhân giống riêng, ông Nhân vừa kể: “Cuộc sống của gia đình tôi thực sự được “đổi đời” là nhờ cây táo xuân 21. Năm 2001, đọc được thông tin trên Bản tin của Trung ương Hội Nông dân và Báo Nông thôn ngày nay có giới thiệu kỹ thuật trồng và chăm sóc cây táo xuân 21 chất lượng, cho hiệu quả kinh tế cao. Tôi vô cùng thích thú và đã xuống tận Trường Đại học Nông nghiệp I mua 5 cây táo về trồng thử tại vườn. Sau một năm, cây táo sinh trưởng và phát triển tốt, cho thu 1 tạ, quả ăn ngọt và giòn, bán ra thị trường với giá cao 14 nghìn đồng/kg. Thấy cây táo phù hợp với thổ nhưỡng vùng đất này, chăm sóc đơn giản lại cho nguồn thu cao nên tôi quyết định mua thêm 50 cây táo về trồng, đến nay trong vườn nhà tôi đã có gần 1 nghìn cây”. Nhận thấy phát triển loại táo này cho thu nhập cao, ông đã mày mò tìm cách chiết cành táo giống để bán cho các hộ trong khu vực và nhiệt tình hướng dẫn họ cách chăm sóc táo đem lại nguồn thu hiệu quả (hiện ở xã có trên 25 hộ nhờ sự giúp đỡ của ông đã phát triển cây táo xuân 21 cho thu nhập khá). Đi trong vườn táo rộng mênh mông, ngắm những gốc táo được chăm sóc kỹ càng đang căng tràn sức sống tôi thật vui khi biết năm 2007, riêng nguồn thu từ vườn táo mang lại cho gia đình ông trên 100 triệu đồng, năm 2008 thu lãi trên 280 triệu đồng, năm 2009 là 380 triệu đồng. Đó là chưa kể các khoản thu từ cây giống và cây ăn quả ổn định cho gia đình ông trên dưới 100 triệu đồng/năm. Hàng năm, gia đình ông đều mua đất mở rộng diện tích vườn, từ gần 3 nghìn m2 đất lúc đầu hiện gia đình ông đã mua thêm đất mở rộng khu vườn ra 20 nghìn m2 trồng các loại cây ăn quả và nhân giống các loại táo, ổi, nhãn, vải, cây cảnh như đào bích, đào phai… Trong khu vườn còn có một hệ thống mương máng được xây dựng bao quanh để cung cấp nước tưới cho các loại cây cùng nhiều máy móc thiết bị và nguồn cây giống trị giá đầu tư hàng tỷ đồng…

Là một hội viên nông dân linh hoạt, sáng tạo làm kinh tế giỏi, ông Nhân đã được nhận Kỷ niệm chương vì Giai cấp nông dân Việt Nam, được UBND tỉnh tặng nhiều bằng khen, Giấy khen là hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, gia đình ông được nhận Giấy khen của UBND huyện là gia đình văn hóa tiêu biểu giai đoạn 2007 - 2009. Nhận xét về ông Vũ Ngọc Nhân, ông Nguyễn Văn Hữu, Chủ tịch Hội Nông dân xã Đồng Liên nói: “Ông Nhân là Tổ trưởng tổ làm vườn của xã, một hội viên nông dân tiêu biểu có ý chí, nghị lực, say mê tìm cách vươn lên làm giàu. Không những vậy, ông Nhân còn tích cực giúp đỡ cho các hộ nghèo bằng cách cung cấp cây con giống, đến khi họ thu hoạch mới phải trả tiền, tích cực hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc các loại cây cho người dân có nhu cầu”…

Q.T (theo: Báo Thái Nguyên)

 

   

Hiệu quả từ mô hình trang trại nuôi lợn nái ngoại ở xã Phấn Mễ

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

Đó là mô hình trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại của gia đình chị Hồ Thị Dung ở xóm Bún 2, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương. Sau 9 năm thực hiện, mô hình này đã đạt hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế cao.

Chị Dung cho biết: Trước đây, cũng như bao gia đình nông dân khác, gia đình chị chăn nuôi và làm ruộng là chính. Chị thường nuôi 2 lợn nái Móng Cái, khi lợn sinh ra thì để nuôi toàn bộ thành lợn thịt nhưng thu nhập không cao, kinh tế gia đình vẫn gặp nhiều khó khăn. Năm 2001, chị tham gia dự án phát triển chăn nuôi lợn nái ngoại theo mô hình trang trại của tỉnh Thái Nguyên; được Trung tâm Khuyến nông giúp xây dựng mô hình chăn nuôi lợn nái ngoại, quy mô ban đầu chỉ 10 lợn nái và 01 lợn đực giống với các giống lợn Yorshire và Landrace. Trước đó chị được Trung tâm mời đi tham quan các mô hình chăn nuôi lợn nái ngoại theo trang trại tại tỉnh Hải Dương và thăm nhiều trang trại chăn nuôi lợn ở Phổ Yên, Sông Công, TP Thái Nguyên... Chị cũng được dự các lớp tập huấn về chăn nuôi lợn ngoại do các chuyên gia từ Trung tâm Nghiên cứu lợn Thuỵ Phương - Viện Chăn nuôi Quốc gia giảng dậy.

Để việc chăn nuôi bền vững, nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế, gia đình chị đầu tư xây dựng chuồng trại kiên cố, có hệ thống chuồng lồng, cũi cho từng loại lợn, có đầy đủ hệ thống điện, nước rửa chuồng trại, nước tắm, nước uống, máng ăn tự động. Thức ăn đảm bảo chất lượng được chị lựa chọn mua từ những công ty có uy tín. Bên cạnh đó, để đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh, toàn bộ chất thải từ lợn được chị xử lý bằng hầm Biogas. Việc xây dựng hệ thống biogas đã cung cấp toàn bộ chất đốt cho sinh hoạt hàng ngày và nguồn phân bón cho sản xuất nông nghiệp.

Kết hợp với việc thường xuyên phun thuốc xát trùng, vệ sinh chuồng trại sạch sẽ thoáng mát, tiêm phòng đầy đủ cho đàn lợn nên tỷ lệ sống của đàn lợn đạt cao và hạn chế dịch bệnh. Việc chăn nuôi của gia đình chị ngày càng được phát triển.

Đến năm 2005, gia đình chị đã có 30 con lợn nái ngoại, gần 600 con lợn thịt, xuất chuồng hơn 50 tấn lợn hơi, trừ chi phí thu lãi trên 50 triệu đồng. Thấy đạt hiệu quả, chị tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô chăn nuôi. Đến nay, gia đình chị đã có 50 con lợn nái ngoại, 2 con lợn đực giống, trong chuồng thường xuyên có 300 – 400 lợn thịt, hàng trăm lợn sơ sinh và cai sữa. Năm 2009, chị đã xuất chuồng gần 800 con lợn thịt, cung cấp cho thị trường tiêu thụ ở Hà Nội, TP Hồ Chi Minh trên 70 tấn lợn hơi, lãi trên 150 triệu đồng.

Từ việc chăn nuôi lợn nái ngoại theo mô hình trang trại đời sống gia đình chị ngày càng được nâng cao, tạo việc làm cho 4 lao động trong gia đình; hàng năm gia đình chị có thu nhập ổn định 120 - 150 triệu đồng.

QT (theo: TT KNQG)

 

"Vua nấm ở Thái Nguyên

Mô hình nông dân sản xuất giỏi

 

“Vua” nấm ở Thái Nguyên:

Đó là đánh giá của nhiều lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên khi nhắc tới ông Nguyễn Đình Thử - Chủ nhiệm hợp tác xã (HTX) sản xuất nấm Hùng Sơn (xã, Hùng Sơn, huyện Đại Từ). Từng là chủ nhiệm HTX Nông nghiệp trong những năm bao cấp, rồi làm chủ tịch UBND xã nhưng ông Thử luôn tâm niệm: “thất bại là mẹ của thành công”. Nhờ ý chí, nghị lực vươn lên mạnh mẽ, ông đã trở thành một trong những “tỷ phú nông dân” ở Thái Nguyên.

Sau khi thành công trong việc xây dựng trang trại nuôi lợn rừng với quy mô 50 con, năm 2007, ông Thử đã được lãnh đạo huyện Đại Từ đồng ý làm chủ dự án xây dựng mô hình trồng nấm. Trước đây, việc trồng nấm đã xuất hiện ở Đại Từ nhưng cây nấm luôn trong tình trạng phát triển luẩn quẩn: khi thị trường cần thì không đủ nấm để bán, khi có nhiều nấm thì giá hạ, ế ẩm, không tiêu thụ được... Bỏ ra vài tháng đi tham quan, học tập kinh nghiệm trồng nấm tại một số tỉnh, tiếp xúc với những hộ dân làm nấm tại huyện để tìm hiểu nguyên nhân thất bại, ông rút ra được một điều: làm nấm rất lãi nhưng cái khó là không bán được hàng. Đắn đo suy tính, cuối cùng ông Thử đồng ý tham gia chương trình xây dựng mô hình trồng nấm do huyện đề xuất. Vợ con ông lo lắng lắm nhưng ông lập luận, nếu chuyên tâm vào trang trại lợn tức là chỉ lo cho mình, làm nấm thành công thì giải quyết được bài toán công ăn việc làm cho nhiều người, đáp ứng được mong mỏi của chính quyền. Ông nói thêm, điều quan trọng nhất là mình đã tìm ra được nguyên nhân thất bại của những người dân Đại Từ làm nấm trước đó. Đó không chỉ là do yếu về khoa học kỹ thuật mà yếu cả về thị trường, thương mại...Nói là làm, ông đề nghị huyện và chính thức triển khai xây dựng mô hình sản xuất nấm với quy mô 1 ha đất ngay sát thị trấn huyện Ông về nhà thu gom cả gia sản được 400 triệu để làm nấm và “cắm chốt” ở trại nấm trên huyện suốt từ bấy đến nay, dẫu rằng thị trấn chỉ cách nhà chừng 10 km. Cùng với việc xây dựng được chiến lược bán hàng, giữa tháng 6/2008, ông Thử cho công nhân bắt tay vào việc xây dựng nhà xưởng và chỉ 4 tháng sau những lứa nấm đầu tiên đã cho thu hoạch, nguồn thu từ bán nấm cuối năm 2008 đã đạt được 420 triệu đồng. Chỉ cần 5 người làm thị trường, sản phẩm nấm ông Thử không đủ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Mô hình làm nấm phải mở rộng quy mô bằng việc thành lập HTX sản xuất nấm Hùng Sơn. Bước đầu, HTX đã tạo việc làm cho 40 lao động với mức lương bình quân đạt 1,5 triệu đồng...

Chưa bằng lòng với những kết quả đó chỉ sau hơn một năm gây dựng, ông Thử tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô HTX. Với sản lượng 3 tấn nguyên liệu mỗi ngày như hiện nay, ông Thử hạch toán nếu tránh được rủi ro thì lợi nhuận sẽ lên đến trên dưới 20 triệu đồng/ngày. Cụ thể, 3 tấn nguyên liệu làm nấm sò có kinh phí đầu tư là 4 triệu (gồm mạt cưa, rơm, túi ni lông, than ủ và giống). Mỗi ngày, HTX phải chi 2 triệu tiền lương cho xã viên. Tổng chi là 6 triệu. Chỉ cần năng suất đạt ở mức trung bình (là 70 % nguyên liệu) sẽ cho 2,1 tấn nấm thành phẩm. Bán giá nhẹ cũng được 30 triệu đồng, trừ đi chi phí sản xuất còn 24 triệu. Trên bàn tính thì lợi nhuận cao vậy nhưng phải vào cuộc mới biết được làm nấm gặp nhiều rủi ro thế nào. Không ít lứa trồng nấm, công nhân của ông Thử chỉ thu được bịch không, thậm chí cả nấm dại mọc tua tủa. Cuối năm 2009, ông Thử tiếp tục đầu tư hơn 2 tỷ đồng mua sắm thiết bị máy móc hiện đại, sản xuất các loại nấm cao cấp như: linh chi, hồng chi, nấm cổ gà... và đổi mới hoạt động của HTX bằng việc phân chia lao động thành các đội sản xuất chuyên biệt. Ngoài ban chủ nhiệm, xã viên HTX nấm Hùng Sơn được biên chế thành 4 đội gồm: đội chế biến và thu mua nguyên liệu, đội thị trường, đội cấy giống và đội chăm sóc, thu hoạch nấm...

Năm nay, được xem như “năm tuổi” của ông (tuổi Canh Dần) nhưng điều quan trọng nhất đối với ông đó là tìm giải pháp đầu tư hiệu quả nhất để sản xuất nấm bằng công nghệ khoa học hiện đại, đưa máy móc thay thế dần lao động thủ công, làm chủ được kỹ thuật sản xuất càng nhiều các loại nấm càng tốt... Sức sáng tạo, ý chí và nghị lực của người chủ nhiệm Nguyễn Đình Thử thật đáng trân trọng./.

QT (BTH)

   

Trang 2 trong tổng số 5